Thứ Tư, 8/4/2020
Đồng chí Lê Duẩn với tư tưởng Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ

Cuộc đời hoạt động gần 60 năm của đồng chí gắn liền với quá trình cách mạng của nước ta từ những năm 20 đến những năm 80 của thế kỷ XX. Với 26 năm trên cương vị Bí thư thứ nhất và Tổng Bí thư của Đảng, đồng chí đã để lại cho chúng ta di sản tư tưởng lý luận phong phú trên nhiều lĩnh vực: Chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, ngoại giao, xây dựng Đảng, trong đó có quan điểm, tư tưởng xây dựng cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.

Chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa (XHCN) được thể hiện bằng một cơ chế (cơ cấu), trong đó Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Ba mặt ấy vừa phân biệt rõ về nội dung, chức năng, nhiệm vụ, vừa có quan hệ hữu cơ với nhau, hợp thành một chỉnh thể thống nhất. 

Trước hết, về sự lãnh đạo của Đảng là bảo đảm cao nhất cho chế độ làm chủ tập thể XHCN bởi mục đích của Đảng là thiết lập chủ nghĩa xã hội, đem lại quyền làm chủ tập thể cho Nhân dân lao động. Nhân dân ta trải qua hơn một nửa thế kỷ đấu tranh vì giải phóng và tiến lên cuộc đời làm chủ, hiểu và tin sâu sắc rằng sự nghiệp lớn lao của mình không thể nào thành công được nếu không có Đảng lãnh đạo. Ý nguyện và tình cảm nhân dân bắt nguồn sâu xa từ quy luật khách quan của lịch sử. Đồng chí Lê Duẩn khẳng định: “Trong thời đại ngày nay, chỉ có giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất có khả năng đi đầu trong cuộc giải phóng xã hội khỏi ách áp bức dân tộc và áp bức giai cấp; chỉ có giai cấp công nhân mới tiêu biểu được cho chế độ làm chủ tập thể XHCN. Bởi vì, đó là giai cấp gắn liền với nền công nghiệp lớn hiện đại, mà chỉ với lực lượng sản xuất tiên tiến và hùng mạnh này thì mới cải tạo được triệt để xã hội cũ và mới thiết lập được nền tảng vật chất vững chắc cho chế độ mới..”(1). Sự lãnh đạo của Đảng, như vậy, tuyệt đối không phải là sự áp đặt chủ quan, trái lại bắt nguồn một cách khách quan từ tính tất yếu lịch sử, từ chính lợi ích giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, từ nhu cầu thiết thân của Nhân dân đấu tranh giành độc lập, tự do và xây dựng cuộc sống mới. Đảng ta quyết tâm làm tròn sứ mệnh cao cả đó. Trong giai đoạn hiện nay, sự lãnh đạo của Đảng là toàn diện, phạm vi rất rộng lớn, quán xuyến  tất cả các mặt hoạt động và đời sống của xã hội, đi vào những lĩnh vực ngày càng mới mẻ, phức tạp và khó khăn của công cuộc đổi mới đất nước, thực hiện CNH, HĐH và hội nhập quốc tế. Đảng ta đang đứng trước yêu cầu phải vươn lên nắm vững hơn nữa lý luận Mác - Lênin về các quy luật phát triển xã hội, nhất là trong điều kiện thực hiện nền kinh tế thị trường, định hướng XHCN, làm chủ các kiến thức khoa học, kỹ thuật, công nghệ hiện đại, vận dụng sáng tạo vào điều kiện thực tế nước ta để cụ thể hoá và phát triển hơn nữa đường lối đổi mới thì những quan điểm của đồng chí Lê Duẩn về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng vẫn còn nguyên giá trị.

Thực hiện công cuộc đổi mới Đảng ta phải đánh giá chính xác những việc đã làm được và những việc chưa làm được, tổng kết sâu sắc những kinh nghiệm thành công cũng như kinh nghiệm không thành công, nhất là trong lĩnh vực tổ chức thực hiện là khâu yếu nhất trong sự lãnh đạo của Đảng hiện nay, trên cơ sở đó vạch ra một cách có căn cứ khoa học phương hướng và chủ trương cụ thể cho từng giai đoạn phát triển bền vững của đất nước.  Đi đôi với việc nâng cao năng lực lãnh đạo về đường lối, chủ trương, Đảng phải rất coi trọng tăng cường sức chiến đấu, giữ cho đội ngũ của Đảng luôn luôn trong sạch và gắn bó máu thịt với nhân dân; xây dựng đảng bộ cơ sở vững mạnh, kiên quyết đưa những người không đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng; đồng thời, không ngừng bồi dưỡng, rèn luyện, nâng cao năng lực và phẩm chất cho cán bộ, đảng viên để đáp ứng yêu cầu , nhiệm vụ của cách mạng.

Hai là, về Nhà nước quản lý, đồng chí Lê Duẩn chỉ rõ: “Nói đến lĩnh vực này là nói đến vấn đề quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội, vấn đề Đảng phải làm gì và làm thế nào để phát huy được mạnh mẽ vai trò và hiệu lực của Nhà nước. Nhà nước ta là nơi biểu hiện tập trung sự lãnh đạo của Đảng và quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động. Đảng cầm quyền phải biết sử dụng Nhà nước, coi đó là một công cụ hùng mạnh và sắc bén để thực hiện quyền làm chủ thật sự của nhân dân và sự lãnh đạo của Đảng trên quy mô toàn xã hội’’. Từ thực tiễn của cách mạng, đồng chí nhấn mạnh: “Nói tổ chức, xây dựng là nói tổ chức xây dựng kinh tế, văn hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất và văn hóa ngày càng tăng của nhân dân trên cơ sở kỹ thuật ngày càng cao và quyền làm chủ tập thể ngày càng đầy đủ của nhân dân lao động. Sự nghiệp vĩ đại ấy không thể nào hoàn thành nếu không có một Nhà nước thể hiện đầy đủ sự lãnh đạo của Đảng và quyền làm chủ tập thể của Nhân dân, một Nhà nước nắm trong tay những lực lượng sản xuất chủ yếu của xã hội, lao động và tài nguyên đất nước, một Nhà nước nắm được và ngày càng thành thạo khoa học quản lý, đủ sức tổ chức và quản lý có hiệu quả mọi mặt hoạt động kinh tế, văn hóa và đời sống Nhân dân. Nếu không có Nhà nước, không có vai trò tổ chức và quản lý của Nhà nước, không thể có chủ nghĩa xã hội. Có Nhà nước vững mạnh trong tay Nhân dân và dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta sẽ có tất cả”(2). Từ thực tiễn những năm 80 của đất nước ta, đồng chí Lê Duẩn đã yêu cầu: “Để làm tốt chức năng tổ chức, xây dựng kinh tế nói riêng, khâu quyết định hiện nay là phải khẩn trương kiện toàn các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương và cơ sở, từ các cơ quan lập pháp, hành pháp đến bộ máy quản lý kinh tế. Trong bộ máy kinh tế ở trung ương, trước hết phải kiện toàn các cơ quan tổng hợp như Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Tài chính, Uỷ ban Vật giá, Ngân hàng, Bộ Vật tư, Bộ Lao động, Ủy ban Khoa học kỹ thuật Nhà nước, Tổng cục Thống kê, là những cơ quan có tác dụng cực kỳ quan trọng đối với việc xây dựng một nền kinh tế có kế hoạch. Việc này rất cần thiết, vì trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta phạm khuyết điểm, sai lầm trước hết và lớn hơn hết là trong việc kế hoạch hóa kinh tế và trong lĩnh vực phân phối, lưu thông. Phải nâng cao chức năng nghiên cứu kế hoạch và chính sách, chức năng thống nhất quản lý từng lĩnh vực liên ngành, và chức năng kiểm tra của các cơ quan tổng hợp, nhằm tạo ra quỹ đạo phát triển đúng đắn và những điều kiện hoạt động thuận lợi cho các ngành, các địa phương, các cơ sở. Bắt đầu từ kế hoạch 5 năm tới, phải tìm ra hình thức tổ chức và chỉ đạo thích hợp, bảo đảm quy tụ được lực lượng và phối hợp được nhịp nhàng giữa nhiều ngành, nhiều địa phương dưới sự quản lý thống nhất của Chính phủ, nhằm thực hiện một số chương trình mục tiêu có ý nghĩa cả nước, như: lương thực, dầu khí, điện – than, giao thông vận tải...

Các cơ quan quản lý ngành phải được kiện toàn để đủ sức quản lý, xây dựng và phát triển các ngành kinh tế - kỹ thuật là những tổ chức then chốt của nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Bộ trưởng là người phụ trách cao nhất đối với toàn ngành, phải làm tốt chức năng quản lý, mà nội dung chính là xây dựng các quy hoạch và kế hoạch phát triển ngành, xác định phương hướng khoa học kỹ thuật, không ngừng cải tiến chính sách, chế độ quản lý đào tạo đội ngũ cán bộ và công nhân cho ngành mình. Phải khẩn trương tổ chức lại sản xuất của ngành trong cả nước, tạo ra cơ cấu mới của ngành, tùy điều kiện mà lập các liên hiệp xí nghiệp, công ty, xí nghiệp liên hiệp, nhóm sản phẩm, bảo đảm những tổ chức ấy thực sự là những đơn vị hạch toán kinh tế, đảm nhận chức năng quản lý sản xuất, kinh doanh có hiệu quả cao. Theo hướng đó, cần sửa đổi mạnh cơ cấu tổ chức của bộ: bỏ dần các cơ quan trung gian không cần thiết, và giảm biên chế, chuyển một bộ phận quan trọng cán bộ từ các bàn giấy về sản xuất’’. Đồng chí còn đề nghị: “Phải tiến hành phân cấp quản lý dứt khoát và cụ thể cho địa phương, mở rộng quyền hạn và trách nhiệm của địa phương về kế hoạch hóa, về phân phối và tổ chức đời sống; về quản lý ngân sách, lao động, vật tư, về tổ chức bộ máy và bố trí cán bộ; đồng thời cho địa phương quyền làm công tác xuất nhập khẩu theo chính sách của Nhà nước. Cần giúp đỡ các tỉnh, thành phố, huyện phát triển nông nghiệp và công nghiệp địa phương và giao cho chính quyền địa phương trực tiếp quản lý các cơ sở chế biến thực phẩm vừa và nhỏ, các ngành, nghề tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp, các cơ sở thương nghiệp bán lẻ, cơ sở dịch vụ cũng như các cơ sở văn hóa, giáo dục, y tế”(5).

Các cơ quan trung ương chẳng những phải quản lý tốt ngành mình mà còn có trách nhiệm thiết thực giúp xây dựng, quản lý ở địa phương và cơ sở, tránh quan liêu xa rời cơ sở. Chính quyền địa phương (tỉnh, thành phố, huyện) vừa đại diện cho chính quyền trung ương, vừa đại diện cho nhân dân địa phương, hai mặt đó thống nhất làm một, thể hiện ở chỗ chủ động giải quyết tốt các vấn đề kinh tế, quốc phòng và đời sống ở địa phương, đồng thời làm tốt nghĩa vụ đối với cả nước, một mặt tránh ỷ lại cấp trên, mặt khác phải ngăn ngừa tư tưởng cục bộ, bản vị. Đồng chí Lê Duẩn còn chỉ  rõ : “Các cơ sở của nền kinh tế quốc dân là tế bào sản xuất, kinh doanh, là nơi trực tiếp diễn ra ba cuộc cách mạng, là nơi thể hiện cụ thể quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động. Cơ sở là nơi Đảng, Nhà nước và quần chúng liên kết thành một cơ cấu chặt chẽ, để hoàn thành mọi nhiệm vụ kinh tế, quốc phòng, văn hóa, xã hội. 

Các cơ sở phải có quyền tự chủ về tài chính, tức là phải thực hiện cho được chế độ hạch toán kinh tế, kinh doanh có lãi, hoàn thành tốt nghĩa vụ đối với Nhà nước, bảo đảm lợi ích của tập thể và nâng cao thu nhập của mỗi người lao động. Các ngành và các địa phương chủ quản phải tăng cường chỉ đạo các cơ sở, kiện toàn bộ máy quản lý xí nghiệp, đào tạo giám đốc cho xí nghiệp quốc doanh, chủ nhiệm, kế toán trưởng và cán bộ kỹ thuật cho hợp tác xã. Phải tổ chức lại các mối quan hệ giữa cấp trên với cơ sở và giữa các cấp trên với nhau, để bảo đảm cho hoạt động của cơ sở được thuận lợi’’(3).

Ba là, về Nhân dân làm chủ, đồng chí Lê Duẩn khẳng định: “Phương hướng cơ bản để tăng cường Nhà nước là thực hiện đầy đủ quyền làm chủ tập thể của Nhân dân trong việc quản lý nhà nước, quản lý kinh tế và xã hội. Điều quan trọng và cấp bách nhất là phải thực hiện cho được làm chủ tập thể ở cơ sở vì đây là nơi trực tiếp đụng chạm đến lợi ích, đến cuộc sống và quyền làm chủ của người dân. Phải thông qua đấu tranh nội bộ trong các tổ chức cơ sở của Đảng và qua phong trào quần chúng góp ý kiến phê bình chi bộ, đảng bộ cơ sở, phê bình cán bộ, đảng viên mà chấm dứt những hiện tượng quan liêu hống hách, những vụ vi phạm quyền công dân và quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, mà loại bỏ những phần tử thoái hóa, biến chất trong Đảng, lợi dụng chức quyền để ức hiếp quần chúng, ăn cắp của công, hối lộ, móc ngoặc, đầu cơ, trục lợi.... Gần đây, nhiều nơi có những kinh nghiệm tốt, cần tổng kết, phát huy, phổ biến. Những việc đó không chỉ là nhiệm vụ của cơ sở mà là của cả các cấp Trung ương và địa phương, bởi vì Nhân dân không thật sự làm chủ ở cơ sở thì căn bản không thể làm chủ ở các cấp bên trên, và thật là vô nghĩa nếu nói rằng ở cấp trên đã có chế độ làm chủ trong khi ở cơ sở quần chúng Nhân dân không thực hiện được quyền làm chủ. Nhằm khắc phục những hiện tượng Đảng bao biện công việc Nhà nước hoặc tách rời một cách máy móc sự quản lý của Nhà nước với sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta cần soát xét lại một cách toàn diện từ cơ cấu tổ chức, quyền hạn và trách nhiệm cụ thể, đến chế độ làm việc của mỗi cấp ủy đảng và mỗi cấp chính quyền. Phải cải tiến lề lối hoạt động của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, khiến các tổ chức dân cư đó thật sự là những cơ quan quyền lực của nhân dân, thật sự chịu trách nhiệm trước nhân dân’’. 

Đồng chí chỉ rõ: “Phải ra sức nâng cao chất lượng và phát huy vai trò các đoàn thể quần chúng, xây dựng Công đoàn, Đoàn Thanh niên, tổ chức nông dân tập thể, Hội Phụ nữ, thành những tổ chức mạnh trong cơ chế làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa. Các đoàn thể phải tổ chức một cách thường xuyên, sâu rộng phong trào cách mạng của quần chúng, đưa hội viên tích cực tham gia sự nghiệp xây dựng, phát triển kinh tế, văn hoá, qua đó làm cho đoàn thể thật sự là tổ chức chiến đấu của người lao động, là trường học rèn luyện con người mới xã hội chủ nghĩa’’(5). Một phương hướng nữa rất quan trọng hiện nay để củng cố Nhà nước và phát huy hiệu lực của nó là tăng cường pháp chế XHCN. Sử dụng pháp chế là định ra các luật lệ nhà nước, phổ biến và giải thích pháp luật, kiểm tra nghiêm ngặt việc thi hành pháp luật, cưỡng bức đối với những người không tự giác, và trừng trị đích đáng bất kỳ ai vi phạm. Bằng việc kiên quyết thực hiện pháp chế XHCN, Nhà nước tỏ rõ quyền lực và hiệu quả quản lý của mình, bảo đảm chế độ làm chủ tập thể của nhân dân, tạo ra cuộc sống cộng đồng có kỷ cương, trật tự, ngăn chặn và loại trừ  mọi biểu hiện tiêu cực, mọi tệ nạn và thói xấu trong xã hội.

Đồng chí Lê Duẩn nhấn mạnh: “Phải xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và nhất quán, trong đó một bộ phận quan trọng hàng đầu là các pháp luật, thể lệ, chế độ về kinh tế. Hệ thống pháp luật hiện nay của chúng ta chưa phát triển, nhiều mặt hoạt động chưa được chế định thành luật lệ, và phần luật lệ đã có rồi thì còn những chỗ chưa thể hiện đúng quyền làm chủ tập thể của Nhân dân lao động, nhiều cái đã lạc hậu, nhiều chỗ thiếu ăn khớp, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế. Nhà nước ta phải sớm xây dựng, ban hành và kịp thời bổ sung, điều chỉnh pháp luật về các mặt hoạt động và đời sống xã hội, đưa mọi lĩnh vực vào tổ chức, quy củ. Trong lĩnh vực kinh tế, phải bổ sung pháp luật và thể lệ về kế hoạch hóa, về hạch toán kinh tế, về lao động, vật tư, tài chính, về hợp đồng kinh tế và hội đồng trọng tài, về nghĩa vụ và quyền lợi mỗi công dân, mỗi đơn vị cơ sở, mỗi ngành, mỗi cấp. Pháp chế xã hội chủ nghĩa phải hoàn toàn thống nhất với nhau, từ luật của Nhà nước cho đến các quy định của các cơ quan chính quyền các cấp”. 

Đồng chí còn chỉ rõ: “Sống theo pháp luật, làm đúng pháp luật là yêu cầu chung đối với toàn thể Nhân dân, là nghĩa vụ, là bổn phận trước nhất của cán bộ và nhân viên nhà nước. Những người thừa hành pháp luật, được trao quyền lực lớn, nếu không trước hết tự khép mình vào pháp luật, đi đến chỗ lộng quyền, thì hành động sai phạm của họ gây ra những tổn thất đặc biệt lớn cho xã hội, cho Nhân dân. Phải làm cho tất cả cán bộ, nhân viên nhà nước nắm được và làm đúng pháp luật, tiêu biểu cho pháp luật. Người giữ cương vị càng cao, được trao quyền lực càng lớn, thì càng phải gương mẫu thi hành pháp luật, và càng bị xử phạt nặng nếu vi phạm pháp chế”. 

Tư tưởng của đồng chí Lê Duẩn về cơ chế: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ’’ có giá trị lý luận và ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng đối với công cuộc đổi mới đất nước. Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ là phương thức vận hành của hệ thống chính trị ở nước ta. Tại Đại hội VI (1986), Đảng ta khẳng định: "Đảng lãnh đạo, Nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý thành cơ chế chung trong quản lý toàn bộ xã hội". Kể từ đó đến nay, sự vận hành của cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ ngày càng được cụ thể hóa và hoạt động hiệu quả, thể hiện rõ tính ưu việt mối quan hệ Đảng-Nhà nước-Nhân dân trong chế độ XHCN ở Việt Nam.

Kế thừa kinh nghiệm và kết quả 30 năm thực hiện đường lối đổi mới; trước yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Đại hội XII của Đảng khẳng định: Tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa mối quan hệ Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ, nhất là nội dung “nhân dân làm chủ” và phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát"(6); coi đó là một trong những phương thức hữu hiệu để đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống. Thực tiễn cách mạng đã chứng minh, khẳng định về Đảng lãnh đạo toàn diện công cuộc đổi mới đất nước. 

Nhất quán với quan điểm, chủ trương, đường lối mà Đảng ta đã nêu ra qua các kỳ đại hội, tại Đại hội XII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: Đảng lãnh đạo là yếu tố tiên quyết bảo đảm sự vận hành của cơ chế, làm cho cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ đạt hiệu quả, thực sự đi vào cuộc sống. Sự khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, xã hội và cách mạng Việt Nam là vấn đề có tính nguyên tắc. Đây là quy luật khách quan, không tự nhiên mà có và không phải cứ tự nhận mà được. Bởi lẽ, sự lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam đã được Nhân dân thừa nhận từ sự kiểm nghiệm của thực tiễn lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đem lại hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Để Đảng ta hoàn thành sứ mệnh lãnh đạo Nhà nước và xã hội, đáp ứng sự kỳ vọng, mong muốn của Nhân dân, Đảng phải “đoàn kết, đổi mới, dân chủ, trí tuệ, kỷ cương”, có đường lối lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt; có biện pháp nhân lên sức mạnh nội sinh, phát huy cao nhất sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và thời đại; tạo mọi điều kiện thuận lợi để Nhân dân làm chủ xã hội và phát huy tốt vai trò quản lý của Nhà nước ngay từng địa phương, cơ sở. Cùng với đó, Đảng phải đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống nguy cơ thoái hóa, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; chủ động, tích cực đấu tranh phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Không để đất nước bị động, bất ngờ. Điều đó chỉ có thể thực hiện tốt khi cơ chế vận hành: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ được tiếp tục phát huy cao nhất; trong đó, Đảng phải thật sự là nhân tố lãnh đạo có trí tuệ, là đạo đức, là văn minh. Đại hội XII của Đảng nêu rõ nhiệm vụ và giải pháp trên 15 vấn đề lớn, trong đó “đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng” được xác định là: “Tiếp tục cụ thể hóa phương thức lãnh đạo của Đảng đã được xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên XHCN (bổ sung, phát triển năm 2011) ở tất cả các cấp bằng những quy chế, quy định, quy trình cụ thể. Quy định rõ hơn Đảng phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân về những quyết định của mình”.

Về Nhà nước quản lý: Đây là yếu tố quyết định trực tiếp sự thành công, tính hiệu quả trong vận hành cơ chế. Đại hội XII chỉ rõ: Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam; một mặt, Đảng đề cao vị trí, vai trò tối thượng của Hiến pháp, pháp luật đối với mọi mặt của đời sống xã hội. Mặt khác, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội thông qua cương lĩnh, chủ trương, đường lối của Đảng, bởi nó được thể chế hóa qua hoạt động của Nhà nước; đặc biệt là thông qua công tác tổ chức cán bộ, Đảng thống nhất lãnh đạo, quản lý công tác này của cả hệ thống chính trị, trong đó chú trọng đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức và làm cho bộ máy Nhà nước hoạt động có hiệu quả nhất. Điều đó là hoàn toàn phù hợp với điều kiện nước ta, được khẳng định trong Điều lệ Đảng và hiến định trong Hiến pháp năm 2013. Bởi lẽ, Đảng ta là đảng cầm quyền, là hạt nhân lãnh đạo của hệ thống chính trị. Khâu then chốt có ý nghĩa quyết định làm cho cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ vận hành thông suốt, có hiệu quả là Đảng phải thật sự trong sạch, vững mạnh về chính trị tư tưởng, tổ chức và đạo đức, gắn bó máu thịt với Nhân dân vì Nhân dân là yếu tố trung tâm của mọi quyền lực, là cội nguồn sức mạnh, bí quyết của mọi thành công. Vì vậy, mọi biểu hiện xa dân, coi thường dân, ức hiếp dân, gây phiền phức cho dân, đều làm cho Đảng tự suy yếu, lỏng lẻo, cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ bị phá vỡ. 

Chúng ta ý thức sâu sắc rằng, Nhà nước mạnh thì Đảng cầm quyền mới mạnh; Nhà nước vững mạnh thì quyền làm chủ của Nhân dân mới được bảo đảm và phát huy cao nhất. Nhà nước và hoạt động của Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở ngày càng nhận được sự ủng hộ của mọi tầng lớp Nhân dân thì hiệu quả hoạt động của Nhà nước ngày càng cao, xã hội càng dân chủ; mục tiêu, lý tưởng của Đảng mới được thực hiện. Vì vậy, để tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì Nhân dân, Văn kiện Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Thực hiện thí điểm dân trực tiếp bầu một số chức danh ở cơ sở và ở cấp huyện”. Đây là một trong những giải pháp nhằm thực hiện quyền làm chủ trực tiếp của Nhân dân ngay từ địa phương.

Về Nhân dân làm chủ: Đây là yếu tố trung tâm của cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Tầm quan trọng đặc biệt của yếu tố này biểu hiện ở chỗ: Quyền lực của Đảng và Nhà nước đều từ quyền lực của Nhân dân. Trong lịch sử Việt Nam, ông cha ta luôn đề cao và đặt lên hàng đầu vai trò của Nhân dân trong cấu tạo quyền lực nhà nước và quyền lực xã hội. Đảng ta ra đời, tồn tại, phát triển không vì mục đích tự thân mà vì hạnh phúc của nhân dân. Điều này được thể hiện nhất quán hơn 87 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, từ quan điểm lý luận đến thực tiễn cuộc sống. Vì vậy, Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của dân tộc. Mục đích duy nhất của Đảng ta là đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, xây dựng đất nước giàu mạnh, phồn vinh, đồng bào được sống trong tự do, ấm no, hạnh phúc. Nhờ vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn phát huy được sức mạnh của nhân dân để tiến hành đấu tranh giành và giữ vững độc lập, tự do và tiến hành thắng lợi công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, trong thực tế, có lúc, có nơi vai trò làm chủ của Nhân dân vẫn còn mờ nhạt. Ở một số nơi, quyền làm chủ của Nhân dân vẫn bị vi phạm... Văn kiện Đại hội XII chỉ rõ: “Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc chưa được phát huy đầy đủ, có lúc, có nơi chưa phát huy được vai trò, sức mạnh của Nhân dân” và “Quyền làm chủ của Nhân dân ở nhiều nơi, nhiều lĩnh vực còn bị vi phạm. Có lúc, có nơi, việc thực hiện dân chủ còn hạn chế, hoặc mang tính hình thức”. Đây chính là vấn đề mà Đảng và Nhà nước ta cần phải nghiên cứu, giải quyết, nhằm phát huy tốt hơn nữa vai trò làm chủ của Nhân dân trong thời kỳ mới.

Để tiếp tục vận hành cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ trong tình hình mới hiệu quả hơn, Đại hội XII của Đảng chỉ rõ cần tập trung thực hiện tốt những vấn đề cơ bản sau đây:

Một làđẩy mạnh việc thể chế hóa bằng pháp luật và sớm đưa vào đời sống mọi chủ trương, đường lối của Đảng. Hiến pháp năm 2013 xác định: Đảng là thành viên và đồng thời là hạt nhân của hệ thống chính trị, Đảng lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội; Đảng hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật... Vì vậy, trong các văn bản quy phạm pháp luật, cần quy định rõ, cụ thể chức năng, nhiệm vụ của Đảng cầm quyền phù hợp với Hiến pháp và pháp luật. Cán bộ đảng viên phải thực hiện nghiêm Hiến pháp và pháp luật. Đây là những quy định bảo đảm cho Đảng luôn là một tổ chức chặt chẽ, giữ vững vai trò lãnh đạo, không lạm quyền, bao biện, làm thay chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội.

Hai làtạo mọi điều kiện thuận lợi để Nhân dân trực tiếp thể hiện và thực hiện quyền làm chủ trên các mặt của đời sống xã hội. Đại hội XII của Đảng khẳng định, chúng ta xây dựng một xã hội do Nhân dân làm chủ, quyền lực và hạnh phúc thuộc về Nhân dân. Vì vậy, Đảng, Nhà nước cần tạo ra nhiều “kênh” để nhân dân thực hiện quyền làm chủ trực tiếp của mình, cần tổ chức nhiều đợt lấy ý kiến của Nhân dân; phát huy quyền làm chủ về chính trị của mình đối với các vấn đề trọng đại của đất nước. Thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở theo phương châm: Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát và quản lý mọi hoạt động của xã hội, của Đảng, Nhà nước theo Hiến pháp và pháp luật; đồng thời giữ vững kỷ cương, phép nước.

 Ba là, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Cần tuyên truyền, giáo dục cho mọi người dân thực hiện: “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”, mọi người dân, bất kể là ai đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; Nhà nước phải chịu sự lãnh đạo của Đảng và sự lãnh đạo ấy phải được thể chế bằng luật định; phải có quy định rõ ràng để bảo đảm tất cả mọi quyền lực đều thuộc về Nhân dân; Nhân dân có quyền kiểm soát Nhà nước, có quyền bãi miễn những đại biểu do mình bầu ra, nếu đại biểu đó mất tư cách và không làm tròn nhiệm vụ. Nhà nước tôn trọng và khuyến khích sự hoạt động của các tổ chức chính trị-xã hội theo đúng luật định. Đây chính là sự biểu hiện rõ nhất vai trò: “Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”; đồng thời, cũng là điểm biểu hiện rõ nhất tư cách “Nhân dân làm chủ” xã hội. Đảng ta tiếp tục khẳng định cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ không chỉ thể hiện sự nhất quán về quan điểm, đường lối, phương thức lãnh đạo của Đảng, mà còn khẳng định cơ chế này là bảo đảm chắc chắn nhất cho sự thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Một trong những “chìa khóa” để thực hiện thành công cơ chế đó là: “Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc”; “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân”. Thực hiện tốt công tác dân vận, xây dựng, củng cố, tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

Kỷ niệm 110 năm Ngày sinh Tổng Bí thư Lê Duẩn, chúng ta khẳng định vai trò và những công lao to lớn của Đồng chí với sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng CNXH; và vận dụng tư tưởng của Đồng chí về Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ để tiếp tục giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới, nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu: “ Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh’’ vững bước đi lên XHCN./.

TS. Nguyễn Văn Hùng,

Phó Trưởng Ban Dân vận Trung ương

----------------

  1. Lê Duẩn, Tuyển tập, tập III, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2009, tr. 874.
  2. Lê Duẩn, Tuyển tập, tập III, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2009, tr. 877.
  3. Sdd, tr. 880.
  4. Sdd, tr. 882
  5. Sdd, tr. 883.
  6. Sdd, tr. 1368- 1369.
  7. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội 2016, tr. 210-211.

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi