Thứ Tư, 20/11/2019

Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ với sự nghiệp thống nhất, phát triển đất nước

Cách đây 230 năm (1789), sau khi lên ngôi Hoàng đế với niên hiệu Quang Trung, Anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ (1753-1792) đã chỉ huy nghĩa quân Tây Sơn đánh tan hơn 20 vạn quân Thanh xâm lược. Bên cạnh đó, ông cũng là người thống nhất đất nước sau 300 năm bị chia cắt với cục diện Nam Triều - Bắc Triều, Đàng Trong - Đàng Ngoài với chiến công đánh bại chúa Nguyễn, chúa Trịnh, quét sạch quân xâm lược Xiêm La, Mãn Thanh ra khỏi đất nước, thu giang sơn về một mối, chấn hưng, phát triển đất nước.

Nguyễn Huệ với sự nghiệp thống nhất đất nước

Tây Sơn có công lao diệt quân Xiêm, bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia dân tộc. Nếu không có ý chí thống nhất quốc gia dân tộc thì Nguyễn Huệ đã không làm nên một trận đánh Rạch Gầm - Xoài Mút năm 1785 ghi tạc vào sử sách như vậy. Việc luôn xem dân tộc ta là một, nước ta là một được thể hiện trong Chiếu lên ngôi Hoàng đế năm 1789 của Nguyễn Huệ trước khi kéo quân ra Bắc đánh đuổi Mãn Thanh và tên vua bán nước Lê Chiêu Thống. Đó là: “Trẫm hai lần gây dựng họ Lê, thế mà tự quân họ Lê không biết giữ xã tắc… sĩ dân Bắc Hà không hướng về họ Lê, chỉ trông mong vào trẫm”, “đại huynh (Nguyễn Nhạc) có ý mỏi mệt, tình nguyện giữ một phủ Quy Nhơn, tự nhún xưng là Tây Vương” và “ức triệu người trong bốn bể đều xúm quanh cả vào thân trẫm, đó là ý trời đã định, không phải do người làm ra. Trẫm nay ứng mệnh trời, thuận lòng người không thể khăng khăng cố giữ sự khiêm nhường”. Và đặc biệt là Nguyễn Huệ đã “truyền bảo cho trăm họ muôn dân phải tuân theo giáo lệnh của nhà vua”.

 Ngoài ra, trong bài hịch là “Lời hiếu dụ tướng sỹ” được Nguyễn Huệ đọc tại lễ lên ngôi Hoàng đế cũng có câu: “Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ” (đánh cho sử biết nước Nam anh hùng có chủ). Việc Nguyễn Huệ khẳng định nước Nam đã có chủ nghĩa là sự khẳng định đất nước đã được thống nhất hoàn toàn. Do đó, sau khi quét sạch quân Mãn Thanh và tên vua Lê Chiêu Thống ra khỏi bờ cõi, Nguyễn Huệ đã làm chủ trên thực tế được cả đất nước Đại Việt, sáng lập ra một triều đại mới là Tây Sơn với niên hiệu Quang Trung.

Giáo sư Văn Tạo (Viện Sử học Việt Nam) đã khẳng định rằng Nguyễn Huệ đã “thống nhất đất nước gắn liền với độc lập của dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ”. Ngoài việc thanh toán Trịnh - Nguyễn, hai thế lực chia cắt đất nước, vua Quang Trung còn đập tan âm mưu chia cắt đất nước của nhà Mãn Thanh bằng Chiến thắng năm Kỷ Dậu 1789. Vì trong mật dụ của Càn Long gửi cho Tôn Sĩ Nghị bị quân Tây Sơn bắt được có viết rõ: Đưa tự quân nhà Lê về nước, vừa tiến đánh vừa thăm dò. Kết cục nếu không thắng được Nguyễn Huệ thì “Bấy giờ ta sẽ làm ơn cho cả hai bên. Từ đất Thuận Hóa Quảng Nam trở ra Nam thì cho Nguyễn Huệ, từ Châu Hoan, Châu Ái trở ra Bắc thì phong cho tự quân nhà Lê. Ta đóng đại binh lại để kiềm chế cả hai bên, rồi sẽ có xử trí về sau”. Sau đó, khi tên vua Lê Chiêu Thống xin nhà Mãn Thanh ép vua Quang Trung cắt hai tỉnh Tuyên Quang, Thái Nguyên để làm địa bàn như thời nhà Mạc thì nhờ chính sách ngoại giao khôn khéo của mình, nhà Tây Sơn đã đập tan ý định đó bằng cách xin cưới công chúa của Càn Long cho vua Quang Trung và gửi thư đề nghị Càn Long cho Lưỡng Quảng (Quảng Đông, Quảng Tây) để làm đất đóng đô.

Chính vì vậy,  Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận xét rất xác đáng là:

 “Nguyễn Huệ là kẻ phi thường,

Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm, giặc Tàu

Ông đà chí cả mưu cao

Dân ta lại biết cùng nhau một lòng.

 Cho nên Tàu dẫu làm hung

Dân ta vẫn giữ non sông nước nhà”.

Vương triều Quang Trung đại diện cho ước mơ của dân tộc

Sau khi lên ngôi, vua Quang Trung đã quản lý đất nước trên một phạm vi rộng lớn dưới một chính quyền trung ương tập trung mạnh. Bộ máy hành chính thời vua Quang Trung được nhanh chóng hoàn thiện. Năm 1790, Vua cho lập sổ theo dõi nhân khẩu (hay hộ khẩu). Vua cũng đã có ý định chọn Nghệ An làm Phượng Hoàng Trung Đô để nêu bật ý nghĩa của triều đại mới.

Vua đã ban “Chiếu khuyến nông”, bãi bỏ thuế điền cho nhân dân từ sông Gianh ra Bắc, động viên các tầng lớp nhân dân lao động phấn khởi sản xuất. Do đó, chỉ trong vòng 3 năm sau, nông nghiệp được phục hồi. Năm 1791, sử sách chép: “mùa màng trở lại phong đăng, năm phần mười trong nước khôi phục được cảnh thái bình”.

Trong công cuộc xây dựng chính quyền mới, vua Quang Trung rất chú trọng “cầu hiền tài”. Trong “Chiếu cầu hiền” nói rõ: “Dựng nước lấy học làm đầu, trị nước chọn nhân tài làm gốc”. Đối với những nho sĩ, trí thức, kể cả quan lại trong chính quyền cũ có tài năng, trí tuệ, có nhiệt tình xây dựng đất nước, Vua đều cố gắng thuyết phục và sử dụng họ vào bộ máy nhà nước mới, đặt họ ở những chức vụ cao tương xứng với tài năng của họ. Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Thiếp... là những học giả tiêu biểu trong số nho sĩ này. Để đáp ứng nhu cầu xây dựng chính quyền mới và đào tạo quan lại mới, bên cạnh phương thức “tiến cử”, “cầu hiền tài” vua Quang Trung đã ban hành chính sách “khuyến học”, mở rộng chế độ học tập, thi cử. Trường học được mở rộng đến các làng xã, cho phép các địa phương sử dụng một số đền chùa không cần thiết làm trường học. Về nội dung, bỏ lối học từ chương khuôn sáo, cải tiến dần theo hướng thiết thực, bắt các nho sinh, sinh đồ ở các triều đại trước phải thi lại. Người nào xếp loại ưu thì mới được công nhận cho đỗ, hạng liệt phải về học lại, còn hạng sinh đồ 8 quan do bỏ tiền ra mua trước đó (thời Lê - Trịnh) đều bị đuổi về chịu lao dịch như dân chúng. Vua rất chú trọng đến chất lượng và tính thực tiễn của việc học “Học cho rộng, rồi ước lượng cho gọn, theo điều học biết mà làm”. Đó là một thế hệ nhân tài, quan lại không chỉ có hiểu biết mà còn có khả năng làm việc thực sự để phục vụ vương triều, đất nước. Để đề cao quốc gia dân tộc, Quang Trung bỏ Hán ngữ như là ngôn ngữ chính thức trong các văn bản của quốc gia. Ngôn ngữ chính thức được sử dụng là tiếng Việt và được viết trong các văn kiện hành chính bằng hệ thống chữ Nôm.

Đối với nước ngoài, vua Quang Trung chủ trương mở rộng trao đổi buôn bán, đấu tranh buộc nhà Thanh phải mở cửa biên giới để buôn bán với nước ta. Đối với thuyền buôn của các nước tư bản phương Tây, Vua tỏ ra rộng rãi, mong muốn họ tăng cường quan hệ ngoại thương với nước ta, nhờ vậy, tình hình thương nghiệp (nội thương và ngoại thương) nước ta được phục hưng và phát triển. Nền ngoại thương nước ta thời kỳ này khác hẳn với ngoại thương thời Vua Lê chúa Trịnh, chúa Nguyễn trước đó. Nó xuất phát từ yêu cầu nội tại của nền kinh tế và đời sống của nhân dân, từ yêu cầu đẩy mạnh nền kinh tế hàng hoá.

 Tư tưởng “thông thương” tiến bộ của vua Quang Trung đã thể hiện nhãn quan kinh tế rộng mở phù hợp với xu thế phát triển của đất nước và thời đại, đó là mở cửa ải, thông thuơng buôn bán, khiến cho các hàng hoá không ngừng chuyển động để làm lợi cho dân chúng. Để thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá thuận lợi, chính quyền còn cho đúc tiền đồng mới (Quang Trung thông bảo và Quang Trung đại bảo). Mô tả Thăng Long bấy giờ, nhà nho Nguyễn Huy Lượng sống dưới thời Tây Sơn viết: “Lò Thạch khối khói tuôn nghi ngút, thoi oanh nọ ghẹo hai phường dệt gấm, lửa đom đóm nhen năm xã gây lò”, và “rập rình cuối bãi đuôi nheo, thuyền thương khách hãy nhen buồm bươm bướm” (Phú Tụng Tây Hồ).

Sự nghiệp cứu nước, dựng nước của Anh hùng dân tộc Quang Trung Nguyễn Huệ được người vợ yêu - Ngọc Hân Công Chúa khái quát qua 2 câu thơ:

Mà nay áo vải cờ đào

Giúp dân dựng nước xiết bao công trình.

Nguyễn Văn Toàn

Bài cùng chuyên mục

Các bài khác

TẠP CHÍ IN